“Cuộc đời không phải là xâu chuỗi thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều hạt lớn, hạt nhỏ, hạt xấu, hạt tốt, hạt cười, hạt khóc, hạt hạnh phúc, hạt vô hạnh… nó là xâu chuỗi vô thường” (Mạc Can)

Thứ Năm, ngày 09 tháng 7 năm 2015

Để nhớ một nét văn hóa du lịch miệt vườn

Nguyên Hậu

Những khu vườn ẩn hiện bên dòng Cầu Ngang
Ngày trước, khi đi học ở Sài Gòn, mỗi lần nghe tôi giới thiệu quê ở Lái Thiêu, những người lớn trạc tuổi ba mẹ tôi thường hỏi tôi rằng, Lái Thiêu bây giờ có còn như ngày xưa không? Thú thật tôi có niềm tự hào mỗi khi nhắc đến địa danh đó, nhưng tôi cũng không biết trả lời sao, vì thế hệ của tôi không có cơ hội được biết Lái Thiêu ngày xưa trong ký ức của những người đó như thế nào.Tết Đoan Ngọ vừa tôi có mời gia đình thầy cô của tôi từ Sài Gòn lên chơi. Thầy cô là người ở Sài Gòn từ trước 1975. Thầy nói từ nhỏ tới lớn, thầy mới đến Lái Thiêu có một lần, đó là lúc thầy còn trẻ, nhưng ấn tượng về miền đất đó thầy vẫn còn nhớ mãi. Sau này công việc bộn bề, thầy cô ít có dịp trở lên Lái Thiêu.
Thầy kể rằng ngày trước, dân Sài Gòn rất thích lên Lái Thiêu chơi, nhất là mỗi dịp cuối tuần. Bởi đó là một vùng xanh mát, rất khác cái không gian chật chội chốn Sài thành. Đặc biệt là mùa trái chín, Lái Thiêu nhộn nhịp lắm. Cứ người này lên chơi về khoe bạn bè là thể nào các bạn cũng tìm dịp lên chơi cho biết. Lái Thiêu cách Sài Gòn có chừng 20km, nên không cần tìm những dịch vụ du lịch đắt tiền và xa xôi tận miền Tây như bây giờ. Tôi thấy tiếc vì mình không được tận hưởng không khí ấy, nhưng qua lời kể của ba mẹ, tôi cũng phần nào thấy thích thú trong lòng. Ba mẹ tôi và hai chị là những người trực tiếp tham gia và giữ lại trong ký ức những nét văn hóa du lịch miệt vườn xưa.
Ấn tượng đầu tiên về Lái Thiêu, đó là một vùng không gian xanh mát với những vườn cây trái sai trĩu quả. Đến Lái Thiêu, khách du lịch được tạm thời quên đi không khí tấp nập, ồn ào của phố thị để hòa mình vào thiên nhiên. Ấn tượng thứ hai là những người dân quê chân chất, hiền lành và hiếu khách. Đến Lái Thiêu, đặc biệt là khu du lịch Cầu Ngang, du khách được dạo chân vào những khu vườn rợp bóng mát, tận mắt nhìn thấy trái cây lủng lẳng trên cành, được hái những quả măng cụt, chôm chôm hay mít tố nữ thơm lừng, được nghe tiếng lá xào xạc dưới chân hòa vào tiếng ve râm ran mà thư thới trong lòng. Ngày xưa mùa trái chín bắt đầu từ đầu tháng ba Âm lịch, kéo dài đến hết tháng sáu Âm lịch. Đầu tiên là dâu xiêm, bòn bon, rồi tới măng cụt, sầu riêng, mít tố nữ, chôm chôm…
Ngày xưa hầu như nhà nào cũng có vườn, vườn nào cũng có trái cây, không loại này cũng loại khác. Ngày mùa, vườn nào cũng rộn rã, tiếng bước chân trên lá xạc xào cùng tiếng ve, tiếng nói cười rộn rã. Nhà tôi gần Cầu Ngang nên những ngày mùa, mẹ thường gánh nào măng cụt, nào mít tố nữ, nào dâu xiêm ra Cầu Ngang ngồi bán. Không cần sạp, không cần dù che, chỉ cần ngồi dọc hai bên Cầu Ngang, hoặc trong những con đường nhỏ dẫn vào những vườn trái cây là sẽ có người mua. Chị Ba thường được mẹ dẫn đi cùng, nên mỗi sáng thức dậy chị thường hỏi mẹ hôm nay mình có đi bán “Sì Gòn” không. Câu hỏi ngô nghê, cùng cái cách phát âm ngộ nghĩnh mới đáng yêu làm sao, nhưng mà hình như ngày đó những người dân quê vẫn thường nói vậy. Với người Lái Thiêu, “người Sì Gòn” thuộc một “thế giới khác”, vì thế khi họ đến với Lái Thiêu, bằng tấm lòng hiếu khách, người Lái Thiêu luôn cởi mở và đón tiếp rất nhiệt tình.
Mẹ nói ngày đó trái cây bán đắt lắm, chừng buổi sáng là xong. Dân Sài Gòn đi chơi nhiều, họ hiền lành, tốt bụng và những dịch vụ du lịch miệt vườn ngày đó cũng không kinh doanh lời lãi như bây giờ. Lúc chị Ba và mẹ tôi đi bán thì ba và chị Tư tôi ở nhà hái trái. Đặc biệt những ngày gần Tết Đoan Ngọ, khách du lịch đi chơi nhiều. Họ lại thích được vào tận vườn chơi nên chị phải canh vườn để người ta không “tiện tay” hái hết trái trên cây. Nói là canh vườn vậy, chứ thiệt ra chị cũng không thể chống lại cái hấp lực mới lạ của những người Sài Gòn mang đến. Chị cứ cho người ta vô vườn, rồi đi theo chơi. Có khi còn được người khách cho nhiều kẹo, nhiều bánh, có khi còn có cả tiền ăn kem. Cứ vậy, họ vào vườn chủ yếu là thư giãn chứ không phá phách gì. Người phương xa thì dễ thương, người miệt vườn thì mến khách. Cứ vậy mà không khí hội mùa rất vui, không xô bồ, thị trường như bây giờ.
Măng cụt Lái Thiêu
Có người nói rằng hương sắc miệt vườn Lái Thiêu một phần được thể hiện rõ qua hương vị của những loại trái cây nơi đây. Nó dân dã, mộc mạc nhưng không kém phần tinh tế, quý phái. Mít tố nữ, sầu riêng thì hương thơm lừng, bay xa, dễ quyến lòng du khách. Đặc tính ấy như cái bộc trực, thẳng thắn của người dân Nam Bộ, không màu mè, khách sáo, có sao nói vậy. Còn chôm chôm, bòn bon, dâu xiêm là những loại trái cây dân dã, chỉ ra đúng mùa trong cái nền không gian và thổ nhưỡng xanh mát xứ đồng bằng. Nó không có hương thơm bên ngoài nhưng màu sắc và hương vị bên trong thì không ai lại không mê bởi vị ngọt thanh mát của nó. Còn một loại trái cây nữa khi nhìn thì dân dã, mộc mạc nhưng đặc biệt quý phái, đó là trái măng cụt. Hình dáng của trái măng cụt khi còn xanh trông giống khuôn mặt xinh xắn của một đứa trẻ, miệng lúc nào cũng toe toét cười. Khi ửng chín trái măng cụt lại trông giống khuôn mặt thiếu nữ, ban đầu là những vết điểm son, sau đó ửng hồng, rồi chuyển qua hồng quân, một vẻ đẹp rất mặn mà, hiền lành và đằm thắm. Trái măng cụt cũng có hương thơm rất đặc trưng, nhưng nếu ai không để ý sẽ không dễ gì nhận ra được. Nó có cái nồng nàn của trái chín, vừa có cái đằm sâu của thảo mộc. Măng cụt là một loại cây lâu năm, được mệnh danh là “nữ hoàng” của trái cây miền nhiệt đới, mỗi năm chỉ ra quả một lần sau khi đã hấp thụ đầy đủ tinh hoa của đất và trời nên trong hương thơm có sự hòa quyện thâm trầm giữa những yếu tố đó. Cũng giống như cô gái miệt vườn Lái Thiêu, có nét hiền hòa, thâm trầm và sâu sắc chứ không dễ cởi mở như cô gái miền tây sông nước. Cái duyên ngầm ấy như một thứ “mưa dầm thấm lâu” đối với những chàng trai xứ khác. Không ít chàng trai đã bén duyên với cô gái Lái Thiêu từ những hội mùa trái cây như thế. Ca dao có câu:
Đêm rằm mười sáu trăng treo
Anh đóng giường lèo cưới vợ Lái Thiêu
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà có câu ca dao trên, bởi giường lèo là một loại giường được làm bằng gỗ quý, có chạm trổ công phu, chỉ những nhà có của ăn của để mới đóng được mà thôi. Khách phương xa đến chơi, bất chợt lưu luyến cái hương quê đằm thắm ấy, để rồi kết thành nợ duyên cũng là điều dễ hiểu.
Người phương xa thích đến Lái Thiêu không chỉ vì có vườn trái cây mà còn bởi kiến trúc nhà vườn ở đây. Những ngôi nhà ở Bình Dương xưa thường có kiến trúc nhà chữ Đinh, bao quanh là vườn tược tươi mát. Dân Sài Gòn quanh năm ở chốn nhộn nhịp rất thích về đây để tận hưởng không gian sinh thái như vậy. Khách chỉ cần đạp xe một vòng quanh khu Cầu Ngang, chợ Búng, ngắm những vườn cây trái xanh mát dọc hai bên sông cũng đủ thấy lòng thư thái. Vậy nên những chàng sinh viên Sài Gòn ngày trước vẫn hay trốn học chở bạn lên Lái Thiêu chơi cho thư giãn một ngày rồi về trường tiếp tục đèn sách cho kịp kỳ thi là vậy.

Ngày nay du lịch miệt vườn Lái Thiêu tuy có duy trì nhưng không còn như xưa. Một phần vì ở ngay Sài Gòn cũng có lễ hội trái cây Nam Bộ được tổ chức ở những khu du lịch. Một phần vì những loại trái cây như sầu riêng, chôm chôm được bày bán quanh năm, không cứ mùa hè, ở Lái Thiêu mới có. Còn măng cụt cũng được trồng ở nhiều nơi. Một phần nữa là do cơ chế thị trường mà cách thức tổ chức du lịch miệt vườn không còn như xưa. Tuy vậy, nếu ai đã một lần vương vấn nét văn hóa miệt vườn và nhận ra những đặc trưng của hương vị trái cây Lái Thiêu thì dễ gì không tìm cách quay trở lại, để tìm về, để tận hưởng một chút gì của ngày xưa… 

N.H

Thứ Năm, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Ký ức mùa hoa phượng

Nguyên Hậu

Phượng nở hè đến, phượng tắt hè đi, âu cũng là quy luật phổ quát mà ai cũng hiểu, như trong văn chương có câu “sen tàn cúc lại nở hoa” vậy. Tuy nhiên trong ý này, sen lại là loài được nhắc đến như một biểu tượng cho mùa hạ, chứ không phải hoa phượng, dân dã, và chỉ có ý nghĩa với tuổi học trò.
Thật ra, mọi thứ vốn vô thường, nhưng vô tình hay hữu tình là do lòng người mà ra. Nếu ta vô tình thì mọi vật đều chỉ là hiện thân, là vô nghĩa. Nhưng nếu người hữu tình, thì tự nhiên ta cũng cảm nhận được cái vô thường của nó. Trong trời đất vốn có nhiều loài hoa, có loại hoa bốn mùa, có loại chỉ ra hoa đúng vào mùa của nó, người ta thường gọi đó là loại hoa báo hiệu. Tùy theo sở thích mà mỗi người sẽ yêu quý những loài hoa khác nhau. Có người thích hoa ngắn ngày, đó là những loại hoa có thể mọc và ra hoa suốt bốn mùa, nhưng tuổi thọ của nó không được lâu. Nhưng cũng có người thích hoa theo đúng mùa, đúng tiết. Cũng như hoa mai, hoa đào là biểu tượng của mùa xuân vậy. Những loài hoa như vậy, người thưởng hoa phải là người biết kiên nhẫn, chờ đợi và chuẩn bị tâm thế để thưởng thức. Khi cái diệu thức của thời tiết đã đến mang theo thanh sắc của đất trời, lòng người sẽ ngất ngây, lâng lâng hạnh phúc sau những tháng ngày thiếu vắng, vừa có cái xốn xang, nuối tiếc trước cái bước đi vô tình của thời gian.
Nếu hoa mai, hoa đào là dấu hiệu của mùa xuân thì hoa phượng là tấm áo choàng rực rỡ của cô gái mùa hè. Mùa hè, phượng nở, nhưng ít ai để ý và rưng rưng xúc cảm nếu không phải ở tuổi học trò. Bởi phượng không kiêu sa, không duyên dáng đến lả lướt.  Phượng là chứng nhân của buổi rời xa, là ký ức cho ngày trở về. Phượng rực rỡ trong mắt những cô cậu  học trò hồn nhiên, vô lo nhưng lại đằm thắm trong ánh mắt buồn lúc rời xa của những anh chị sắp bước vào cánh cửa lớn của cuộc đời. Thế nên mới nói, phượng vô tình hay hữu tình cũng là điều bí mật trong tâm hồn. Mười mấy năm cắp sách đến trường là mười mấy lần nhìn thấy cánh phượng rơi. Không biết vô tình hay hữu ý mà hoa phượng lại được trồng ở sân trường, để rồi linh hồn nó được gắn liền với cái tuổi đẹp nhất cuộc đời mỗi người. Hiếm loài hoa nào có được cái diễm phúc ấy. Và ngược lại, cũng nhờ có phượng mà những cô cậu học trò nhận ra được những thay đổi vi tế của tâm hồn.
Tuổi học trò, nếu không có mùa hè, không có hoa phượng báo hiệu sự chia tay,  có lẽ ít ai nhận ra giá trị đích thực của tình bạn. Hoa phượng mở ra khung trời thơ mộng đón lấy những sợi tơ trong tâm hồn mỗi người. Nhà thơ Hàn Mặc Tử từng cảm thán:
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu!
(Những giọt lệ)
Thế mới biết cái ấn tượng mãnh liệt của buổi yêu đầu. Cả một khung trời như rỉ máu trong cái lưu luyến của buổi chia tay. Màu phượng hay màu huyết? Cái nhập nhòa trong cảm xúc và cảm giác đã làm vỡ ra tất cả. Thì ra, lòng đã rưng rưng, đã chịu hé lộ cái bí mật từ lâu cất giấu trong lòng.
Mỗi lần phượng nở là lòng ai đó bỗng chùng lại, dịu bớt cái hờn dỗi, đỏng đảnh, kiêu kỳ; làm cho ta biết những giá trị thiêng liêng của tình cảm và tận hưởng những xao xuyến của con tim. Và ai đó sẽ tiếc nuối vì chưa kịp thổ lộ những thổn thức trong tâm hồn còn quá mỏng manh. Những cánh tay nắm vội rồi sẽ mang theo cả một khối tình chớm nở trở về vùng ký ức.
Chiều nay, cơn mưa rào bất chợt như nói hộ nỗi lòng của những trái tim trước lúc chia tay. Nhưng sẽ còn bao nhiêu trái tim chưa nói nên lời, bao nhiêu ngấn lệ chưa kịp lau khô, bao nhiêu ánh mắt có đuôi sẽ theo đến muôn dặm hành trình…
Vậy thì phượng là vô tình hay hữu tình? Phượng vô tình khi đến như một lời thúc giục, như dấu hiệu của sự chia xa. Nhưng phượng hữu tình vì màu phượng gợi nhắc những bí mật trong tâm hồn mỗi cô cậu học trò, là chứng nhân cho những trái tim bé bỏng. Nhìn phượng chắc không ai có thể vô tâm, hững hờ, vì màu hoa phượng làm cho tâm tình thêm nồng đượm.
Phương đỏ, ai nói phượng không xanh?
Phượng hồng, ai nói phượng không tím?
Phượng lung linh cho đôi mắt ai sâu…


Mùa phượng 2015

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 6 năm 2015

Nghệ sĩ...

Nguyên Hậu

Thiết nghĩ “nghệ sĩ” là một khái niệm mở mà cho đến giờ khó có một định nghĩa nào thật sự đầy đủ. Theo quan niệm rộng rãi, dễ thừa nhận thì nghệ sĩ là người sáng tạo hoặc biểu diễn một hay nhiều loại hình nghệ thuật, hoặc có biệt tài một hay nhiều kĩ năng đặc biệt. Tuy nhiên đó là nói những điều cụ thể mà ai cũng có thể thấy hoặc chứng minh. Vẫn có những “nghệ sĩ tâm hồn” khó ai nhận thấy, và nếu cuộc đời có nhiều những nghệ sĩ như thế thì có lẽ cuộc sống này sẽ đẹp đẽ và thơ mộng biết bao.
Thật tình tôi luôn có những cảm nhận và cảm thông đặc biệt đối với những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật. Đã làm nghệ thuật thì phải hy sinh rất nhiều, cho dù bây giờ nhiều người thấy ca sĩ, nhạc sĩ giàu có, sung túc, cũng có người trở thành “đại gia”. Nhưng mấy ai hiểu được cái mà họ hy sinh và chịu đựng nhiều nhất chính là lĩnh vực tinh thần. Dù là một diễn viên hài thì không chắc cuộc sống thực của họ đã vui. Nên tôi cảm thông nhiều cho những đóng góp đi liền với những mất mát mà họ phải chịu một cách âm thầm. Với những người làm nghệ thuật hoặc nghiên cứu trong lĩnh vực nghệ thuật, tôi phục họ cao hơn một bậc so với những người bình thường hoặc làm những ngành nghề khác. Nội tâm của người nghệ sĩ là một thế giới thẳm sâu ít ai hiểu hết cho dù họ sẵn lòng chia sẻ ít nhiều. Nhiều nghệ sĩ bảo rằng họ không thể xa sân khấu, họ thèm được hàng đêm đứng trên sân khấu với muôn ánh đèn, thèm được nghe tiếng vỗ tay hoặc nhìn thấy sự rung động được biểu hiện trên gương mặt khán giả. Nó giống như một thứ thuốc gây nghiện, khiến họ không thể rời xa. Nói như thế chỉ là một phần, vì đó là cái phần dễ nói nhất, nói ra cũng dễ được người ta hiểu nhất. Nhưng thật ra điều thôi thúc họ là những cái vô hình như hơi thở, cái rung động tinh tế mỏng như khói, nhẹ như sương. Nó hiện hình bằng một cảm giác trừu tượng mà người ta hay gọi là đam mê, là tình yêu. Nhưng điều gì tạo ra sự đam mê, làm cho người ta thấy yêu, thấy thích mới là quan trọng!
Người làm nghệ thuật luôn thèm được chia sẻ nhiều hơn nhận lại từ người khác. Họ chia sẻ chính những cái dồn nén trong họ, được biểu hiện ra thành lời ca tiếng hát nếu đó là âm nhạc; là hình khối, đường nét nếu đó là kiến trúc; là chữ nghĩa, ý niệm, cảm xúc nếu đó là văn chương… Nói chung tất cả đều hướng về cái đẹp, đều rất tinh thần. Một ca sĩ trau chuốt lời ca, giọng hát của mình ngoài việc để được nhiều người yêu thích còn là một cống hiến cho nghệ thuật, truyền những giai điệu tuyệt vời nhất cho cuộc sống. Một nhạc sĩ sáng tác những ca khúc không chỉ mong cầu người ta thích bài hát của mình, mà hơn cả là khát khao được chia sẻ, truyền những cảm xúc của mình đến với nhiều người hơn. Cái họ cần là sự đồng cảm hơn lời tán thưởng.
Người nhạc sĩ chuyên hòa âm phối khí, dù không phải là người sáng tác ca khúc, nhưng cũng cần một sự thẩm thấu, đồng điệu với người sáng tác được thể hiện qua giai điệu, lời nhạc mới mong có thể làm nên những ca khúc hay. Một bài hát, từ lúc tìm lời, viết nhạc, phối khí cho đến lúc trình bày thành một sản phẩm hoàn chỉnh là cả một sự đồng điệu lớn trong tâm hồn của những trái tim hết lòng vì nghệ thuật. Trong một chương trình truyền hình gần đây, tôi được nghe một ý kiến rất chân thực của một người hoạt động nghệ thuật. Họ cảm thấy buồn và bức xúc khi có một sự phân biệt trong thị hiếu đối với các lĩnh vực nghệ thuật. Khi ra đời, những người hát nhạc trẻ được hát trên những sân khấu rực rỡ ánh đèn, trong khi những ca sĩ hát nhạc dân ca hoặc nhạc trữ tình lại phải chấp nhận hát ở những rạp hát nhỏ của tỉnh lẻ, hoặc những đoàn hát lưu động, hội chợ… Có một cái gì đó không công bằng trong các dòng nhạc chăng? Cũng như những người chuyên làm nghề xiếc phục vụ cho khán giả, họ cũng đã hết lòng cống hiến hết mình cho người xem, nhiều khi phải đánh đổi sự an toàn của chính bản thân mình nhưng ít khi nào được công nhận một cách chính thức. Những tiết mục của họ thường phải biểu diễn trong các hội chợ, các gánh hát lẻ, hoặc nếu được biểu diễn trên sân khấu cũng là để lót chương trình cho những tiết mục ca nhạc.
Là nghệ sĩ, họ phải chịu thiệt thòi với chính bản thân mình vì đôi khi phải đánh đổi nhiều thứ để thỏa niềm đam mê của mình. Đối diện với cuộc sống vật chất lên ngôi, họ phải trăn trở rất nhiều trong nội tâm, giữa đam mê và những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống. Có người chấp nhận vì đam mê mà hy sinh tất cả, cuối đời chỉ còn hai bàn tay trắng. Vui chăng là những dư âm mà người đời dành cho, nếu họ thật sự thành công và nổi tiếng một thời. Đó là một điều thật đáng buồn! Quan trọng không kém là nhiều người cũng có thiên hướng nghệ thuật, nhưng trước những lựa chọn để tồn tại giữa cuộc đời, họ chưa một lần được thỏa ước mơ. Họ phải đeo mang những cảm xúc và thổn thức của riêng mình, một mình mình hiểu và đôi khi không khỏi khóc thầm trước sự bất trắc và phức tạp của cuộc sống, làm tổn thương trái tim vốn yếu đuối, mỏng manh. Tuy không bước chân vào con đường nghệ thuật nhưng với tôi, họ cũng là nghệ sĩ, bởi chính họ đã kiến tạo nên tâm hồn mình bằng vô vàn những rung động tinh tế góp nhặt từ sắc màu, âm thanh và hình dáng mà cuộc sống mang lại. Và tôi có lòng tin rằng, chính họ là những người ươm mầm cho những điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Họ là những nghệ sĩ vô danh giữa cuộc đời…
N.H
1.2015

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 2 năm 2015

Tết tuổi thơ



Nguyên Hậu

       
       Cảm xúc con người thật lạ, chỉ thích cái gì tinh khôi, mới chớm. Còn khi điều mong ước đã đến rồi thì trong cái vui vẫn có niềm tiếc nuối. Thế nên “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu mới tiếc ngẩn tiếc ngơ khi đứng trước mùa xuân của đất trời:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
(Vội vàng)
        Nhưng điều này chỉ có khi tôi lớn lên chứ mấy đứa trẻ năm sáu tuổi như tụi tôi hồi trước đâu có khái niệm thế nào là xuân, chỉ chờ mong cho tới Tết. Tết mới vui, chứ xuân thì … không hiểu lắm! Ngày còn nhỏ, tôi chỉ xòe tay đếm xem còn bao nhiêu ngày nữa đến Tết, để đúng sáng ngày Mồng 1 chúng tôi sẽ được xúng xính trong những bộ áo mới rực rỡ sắc màu.
       Lớn lên một chút, tôi bắt đầu biết để ý cảnh sinh hoạt những ngày giáp Tết và bắt đầu thấy thích mấy ngày này. Đó là khoảng thời gian từ rằm tháng Chạp trở đi, khi mà mọi nhà đều bắt cái ghế đẩu ra ngoài sân với tay hái nốt mấy chiếc lá mai còn lại trên cành, như trút đi lớp áo cũ. Cành mai sẽ oặn mình đau đớn, dồn hết nhựa sống nuôi những búp non đang dậy lên từng ngày.Những ngày ấy, khí trời sẽ trong veo, nắng vàng ươm trên những búp mai tròn chỉ chờ đến ngày khoe những lớp áo vàng tươi.
        Ý niệm về Tết đến với tôi vào cái ngày một buổi sáng thức dậy không có ba đưa đi học, mà thay vào đó là mẹ hay chị. Tôi hỏi mẹ thì mẹ nói ba bận đi dẫy mả. Đó buổi sáng ngày 24 tháng Chạp, sau ngày đưa Ông Táo 1 ngày. Không biết sao mà lúc đó cảm giác của tôi thấy buồn lắm. Nó khiến cho tôi nghĩ đến anh Hai tôi đã mất từ nhỏ, lúc đó tôi cũng chưa ra đời.  Năm nào cũng vậy, cứ chiều 23 tôi đã thấy ba mang cái cuốc ra mài lại cho sắc, để sáng mai đi sớm. Năm nào khi ba về mẹ cũng hỏi ba làm có mệt không, năm nay có ai dẫy cùng không, cỏ có mọc cao quá không… Khi hỏi thế tôi biết mẹ đang nhớ tới anh Hai, mắt mẹ rơm rớm…
       Rồi những ngày tiếp theo tôi thấy ba cứ loay hoay ở nhà trên và ngoài sân. Ba lau chùi bộ lư cho bóng rồi phơi nắng, rồi quét dọn, sắp xếp lại bàn thờ. Mẹ với hai chị thì loay hoay dưới bếp lo chuẩn bị chuyện bếp núc cho ba ngày Tết. Tôi nhỏ nhất nên ba mẹ không bắt tôi làm việc gì, chỉ qua lại xem ba hay mẹ có cần giúp gì thì giúp. Thế là tôi tha hồ chạy lên chạy xuống, vừa xem ba lại vừa xem mẹ làm việc. Đó cũng là lúc lòng tôi rộn ràng nhất.
      Có một điều đặc biệt là vào những ngày giáp Tết đó, trong lúc làm việc ba sẽ mở cho tôi nghe những bản nhạc xuân từ cái máy Cassette hiệu Sony. Ba mở nhạc từ cuộn băng xuân bên ngoài có dán cái nhãn màu trắng, trên đầu ghi dòng chữ “Điệp khúc mừng xuân”, một năm mới nghe một lần. Tôi còn nhớ đó là những bài hát xuân với giai điệu nhẹ nhàng và pha lẫn chút buồn. Băng có hai mặt, nhưng lúc nào tôi cũng thích nghe đi nghe mặt A, toàn những bài vui, giai điệu rộn ràng như Con bướm xuân, Cánh bướm vườn xuân, Xuân đã về, Xuân họp mặt , Xuân yêu thương, Thiên duyên tiền định…, còn mặt B thì những bài buồn buồn như  Đón xuân này nhớ xuân xưa, Câu chuyện đầu năm, Chuyện ngày cuối năm, Xuân này con không về... Hồi nhỏ tôi không đủ hiểu biết để hiểu vì sao là nhạc xuân nhưng tôi vẫn thấy có chút gì buồn buồn như vậy, chỉ thấy nó rất hay rất hợp với những ngày Tết. Bây giờ lớn lên tìm hiểu tôi mới biết đó là những bản nhạc xuân được sáng tác trước 1975 ở miền Nam. Viết về mùa xuân nhưng trong giai điệu và ca từ vương vất một chút buồn. Có cái gì đó dang dở, không trọn vẹn hoặc chưa trọn vẹn. Xuân về không chỉ có sự thay đổi của đất trời, cái rộn ràng của lòng người mà trong đó còn là những giây phút suy ngẫm về lẽ tuần hoàn, về cuộc đời và ước ao những điều tốt đẹp chưa trọn vẹn trong năm cũ.
      Ngày nay dù mỗi năm nhạc xuân vẫn rộn ràng, nhiều bài nhạc trẻ mới vừa sáng tác nhưng tôi không thích bằng. Cái máy Cassette của ba đến giờ vẫn nằm im trong tủ, vẫn màu đỏ Bordeaux đẹp như ngày nào, nhưng cuộn băng ngày ấy bây giờ đã nhão (tuổi của nó có lẽ cũng đúng bằng tuổi của tôi) nhưng những gì mà tôi có được trong những ngày Tết tuổi thơ thì không bao giờ có thể quên được. Bây giờ mỗi khi Tết đến tôi thường lên mạng tìm những bài ca ấy về laptop, vẫn những ca sĩ và giai điệu ngày đó, sau đó chép ra đĩa để nghe. Với tôi, những giai điệu đó mới mang lại cái Tết trong tâm hồn tôi, một chút rộn ràng pha lẫn nét buồn buồn, riêng tư…
 N.H

Chủ Nhật, ngày 05 tháng 10 năm 2014

Nỗi buồn của mẹ



Nguyên Hậu
Mẹ, gần gũi đến mức không có gì đặc biệt, thậm chí nếu ai đó từ nhỏ tới lớn cứ ở nhà với mẹ thì có lúc sẽ thấy chán. Cứ nghĩ mẹ tồn tại bên ta như một điều gì hiển nhiên, nên ta không thấy buồn, không khao khát, không nhớ, không thèm. Vậy mà lúc đi xa ta vẫn hay nhớ về mẹ nhiều nhất.
Cái cảm giác đầu tiên khi tôi xa mẹ là một sự trống trải vô bờ bến, không sao diễn tả được. Nhìn đâu cũng thấy trống, lạc lõng, mông lung. Và rồi nhớ, nhớ nhiều thứ mà ngày còn ở nhà với mẹ không bao giờ thấy quý: thèm nghe giọng nói mẹ (dù có khi ở nhà, cũng giọng nói ấy, mỗi khi nghe mẹ rầy ta vẫn hay tìm một góc hay chui vô phòng để trốn); thèm thấy gương mặt mẹ, thèm thấy dáng mẹ ra vào làm gì đó, thèm ăn những món mẹ nấu (dù nhiều khi ở nhà mình cũng áp phe với ba chê mẹ nấu không ngon); thèm cái mùi da thịt thơm thơm, nồng nồng của mẹ; thèm mẹ ngồi sát trong lòng để nhổ tóc sâu (hồi nhỏ mỗi lần nhổ tóc sâu mình thường tính tiền từng sợi – đủ để mua mấy bịch ya-ourt của bà bảy mỗi lần ba chở đi học). Nói chung là nhớ, là thèm dữ lắm.
Đi xa rồi, mỗi lần nghĩ về mẹ lại thấy buồn, không hẳn là buồn vì nhớ mà buồn vì lúc đó mình mới thấm cái cảnh không có mẹ thì như thế nào. Rồi nghĩ đến thời gian, nghĩ đến cái vô thường mà ai cũng đối mặt. Đó mới là lúc thấy mình trưởng thành thật sự, cũng là lúc tới ngưỡng làm cha, làm mẹ. Nếu bình thường thương ba mẹ, hiểu bằng mười, thì khi sắp làm cha làm mẹ hoặc đã làm cha làm mẹ thì cái thương đó hiểu bằng trăm. Rồi lúc đó muốn thời gian quay trở lại để tận hưởng, để bù đắp thì không còn được nữa. Vậy nên từ đó, cảm giác về ba, về mẹ bao giờ cũng buồn. Dù cho tôi có cố gắng tranh thủ những kỳ lễ là chạy vù về nhà, được gần mẹ, rồi đòi làm giúp mẹ đủ thứ, như để bù đắp, vậy mà vẫn thấy thiếu, thấy xót trong lòng.
Thầy Thích Nhất Hạnh viết trong Bông hồng cài áo rằng nếu ai còn mẹ mà không biết yêu thương, không chịu ở gần mẹ để tận hưởng thì các anh, các chị, các em dù có thành đạt, đủ đầy cỡ nào cũng bị thiệt lớn, không có cái phúc nào lớn hơn để bù đắp được. Mình thấy thấm cái triết lý đó. Thật ra, sống trên đời nếu còn có ai đó để mình thương thì đã là hạnh phúc lắm. Cho nên có người khi cha mẹ mất rồi thì thấy bơ vơ, vì cái chỗ dựa cho anh thương, anh cất cho riêng mình không còn nữa.
Tuy không xa nhà mấy nhưng mình vẫn thuê nhà ở riêng cho tiện công việc và học hành. Rồi mỗi lần về nhà, bữa cơm nào mẹ cũng làm thật thịnh soạn. Mẹ nấu toàn những món mình thích. Tôi nói ở Sài Gòn con có thiếu món nào đâu, muốn cái gì ra tiệm cũng có. Nói vậy chứ những món tôi thích toàn là những món nhà quê, nào là rau muống ao xào tỏi, canh chua bông chuối nấu lá giang, dưa chuột muối, đọt mớp chua… Mấy cái đó nếu có ở Sài Gòn cũng toàn trong những nhà hàng sang chuyên làm món dân tộc và bán giá rất đắt nên đời nào tôi đi ăn. Với lại đó là món ruột mà chỉ mẹ nấu tôi mới thấy ngon. Những đứa con thường thích ăn mấy món chính mẹ mình nấu, nghe qua có vẻ ham ăn hơn là thương mẹ. Nhưng vì trong món ăn còn có cái hương, cái tình của mẹ. Đó còn vì hạnh phúc của mẹ là được tận tay chăm sóc đứa con của mình dù biết thế giới bên ngoài đầy đủ bao nhiêu. Mấy năm ròng ở Sài Gòn tôi chẳng xuống cân nào mà còn tăng cân, chứng tỏ đời sống cũng không mấy khắc khổ. Thế mà lần nào về nhà, mẹ cũng suýt xoa, tội nghiệp. Mẹ mong tôi về gần nhà làm việc, ở nhà của mẹ, ăn món của mẹ và để có mẹ chăm sóc lúc ốm đau. Tôi kêu mẹ đừng lo cho con, con đi xa vì không muốn thấy mẹ cực khổ vì con. Là tôi chưa hiểu hết suy nghĩ của mẹ! Rồi mẹ nói, trong mấy chị em trong nhà mẹ thương tôi nhiều nhất, không phải vì tôi xinh đẹp, giỏi giang hơn mấy chị, mà vì tôi là con út. Người mẹ thường chắt mót tuổi xuân của mình dành cho đứa con út, cho nên xem nó như một bảo vật. Hồi nhỏ tôi luôn lấy là hãnh diện về điều đó. Nhưng bây giờ lớn rồi tôi mới hiểu vì sao mẹ cứ hay ray rứt vì tôi. Đứa con út nào cũng có ít thời gian gần gũi cha mẹ hơn những anh chị của nó!
Cha mẹ nào cũng muốn nhìn thấy con mình thành gia lập thất mới yên lòng. Hồi nhỏ tôi thấy quan niệm đó sao mà quê mùa và cổ hủ quá. Giờ tôi hiểu, trên đời này cái quê mùa và cổ hủ nhất chính là tình thương. Cái gì cũng có thể bỏ, có thể đổi thay nhưng cái chất vị của tình thương thì không bao giờ thay đổi. Nhà hai chị đều có chồng, mỗi chị đều có hai bé con xinh xắn. Cả bốn đứa cháu, một tay mẹ lo tất. Giờ chỉ còn mình tôi. Mẹ chỉ sợ đến khi tôi có con thì mẹ không còn khỏe để giúp tôi chăm sóc. Và thế là tôi bị thiệt thòi nhất.
Đối với mẹ, cái danh vọng, vật chất không quan trọng, không bù đắp được cái tình mà mẹ dành cho tôi. Vậy nên, nói như thầy Nhất Hạnh, vì tôi dại nên mới không chọn ở gần mẹ. Suốt đời tôi cứ rong ruổi theo lý tưởng của mình. Ở xa, nhiều đêm không ngủ được, tôi nằm nghĩ mà thương mẹ, thấy có lỗi với mẹ vì không được ở gần chăm sóc, phụng dưỡng. Tôi có biết đâu, đó cũng là lúc ở nhà, mẹ đang nằm nghĩ, mà tội, mà thương cho đứa con út không được ở gần, để mẹ thương…
N.H

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 9 năm 2014

Về miền Tây



Nguyên Hậu

Những ngày này nghe tin tức trên đài, miền Tây đã vào mùa nước nổi, tự dưng thấy thèm về đó vô cùng.
Không phải là quê hương mình nhưng lúc nào trong lòng cũng nhơ nhớ, để hễ có lúc nào rảnh rỗi lại muốn chạy vù về dưới ngay. Cũng chẳng thân ai cho đậm đà, nhưng mọi người ở dưới, dù chỉ mới quen vẫn thấy thương, thấy gần gũi tự khi nào.
Hồi còn sinh viên, khi lặn lội đi nghiên cứu đề tài về thơ đồng bằng cũng vào mùa nước nổi. Cả nhóm, bốn đứa sinh viên năm ba, chân ướt chân ráo mới bước xuống đồng bằng lần đầu tiên khi đi thực tập hồi đầu năm. Vậy mà đứa nào cũng thương miền Tây, nghe có dịp trở về là mừng hết lớn. Trong nhóm cũng có một đứa người Bến Tre, dân Bình Đại, nhưng vì là đứa dân quê ít đi đây đi đó, từ nhỏ tới lớn chỉ có biết đi từ trường về nhà, quanh quẩn trong cái xóm nhỏ ven biển. Đến lúc học đại học thì quãng đường dài nhất mà nó đi là từ nhà nó lên thành phố, đi bằng cái xe buýt, ghé ngang rước tận nhà, rồi thả xuống tận bến xe Bến Tre, xong nó lại bắt thêm một lượt xe lên Sài Gòn. Chỉ có vậy, suốt mấy năm trời học đại học, nó cũng chưa biết hết cái Bến Tre. Nên lần đầu tiên cả 4 đứa, đèo trên 2 cái xe Honda chạy xuống dưới, mặt mày hớn hở, tự tin vì trong nhóm có đứa dân miền Tây. Nào ngờ từ thành phố Bến Tre, nó dẫn về nhà nó là Bình Đại, đi chừng 30 cây số là cùng, vậy mà nó dẫn đi tít từ 5h chiều, về tới nhà nó là hơn 10 giờ đêm. Đi riết mà hỏng tới, hỏi ra thì nó nói nó hỏng biết đường, vì nó cũng không nhớ cái ông tài xế xe buýt chở nó đi đường nào, mà trong đầu thì nó chỉ biết mỗi con đường đó là dẫn về nhà nó. Ngó lại cái đồng hồ trên xe thì mới biết, nó dắt mình đi gần trăm cây số. Về nhà nó được là tôi ngã gục luôn, sau đó tỉnh dậy, thấy bình an, nằm trong nhà đàng hoàng chứ hỏng phải ngoài đường. Hú hồn.
Có 2 cái xe máy tàng tàng vậy mà chuyến đó cả nhóm đi luôn một lượt được 6 tỉnh đồng bằng, từ Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp xuống tới An Giang. Cái hầu bao sinh viên tới đó là cạn kiệt nên không thể đi tiếp. Như vậy thì cũng được một nửa của miền Tây, nên cũng tạm bằng lòng. Đề tài sinh viên năm đó ai cũng nói lạ, nhưng ăn điểm nhất là hội đồng khoa học quý mấy đứa sinh viên “liều”, “chịu chơi”, thực tâm muốn nghiên cứu những cái mới mẻ, không ngại gian khổ. Làm khoa học mà lấy hầu bao chắt mót ra làm chứ không tính toán nên thầy cô ai cũng thương. Đề tài năm đó được giải nhất hội đồng trường, rồi giải khuyến khích cấp Bộ. Cái quý giá nhất ở công trình đó là mỗi đứa sau khi ra trường có chút kỷ niệm bỏ túi, thỉnh thoảng nhớ lại, thấy vui là được rồi.
Miền Tây với tôi là một miền đất lạ, dù có đi qua mấy chục lần, cả những chuyến đi chơi và công việc, tôi vẫn thấy nó luôn tươi mới trong lòng. Sau này có dịp đi thêm được Cần Thơ, Kiên Giang nữa là 8 tỉnh. Nhưng cái này còn lạ hơn.  Thật ra, dù cho đất đồng bằng có chỗ cao chỗ thấp, có nơi giàu nơi chưa giàu, nhưng cái thổ nhưỡng đó là y như nhau. Người đồng bằng cũng vậy, ai cũng chất phác, mộc mạc, ai cũng cởi mở tấm lòng. Cho nên nói, đi được tám tỉnh thì cũng như đi hết cái đồng bằng vậy. Đi xuống dưới thì thấy không có gì mới, (tiến độ phát triển ở đây rất chậm, không như mấy tỉnh như Bình Dương, Vũng Tàu phát triển nhanh như chong chóng), từ tỉnh này qua tỉnh kia cũng không khác biệt nhiều, nói chung không có cái điểm nào trội cho ta ấn tượng, ngoại trừ cái đất Hà Tiên. Ấy vậy mà mỗi lần trở về Sài Gòn thì thấy thương, thấy nhớ một cái gì gần gũi lắm, và lại muốn trở về dưới thêm, thêm nhiều lần nữa. Nghĩ cũng lạ lùng!
Mùa này mà về dưới thì nhất định tôi sẽ ăn cho được cái món bông điên điển nấu canh, hay canh chua bông so đũa nấu với  cá linh. Đầu mùa nước nổi, cá linh còn nhỏ, con mềm, ăn rất ngon. Mình là dân miền Đông, mặt không gần sông lưng không dựa núi, vậy nên từ nhỏ không quen ăn cá hoặc những món dưới nước (mấy món trên rừng cũng hỏng dám ăn). Nhiều lúc nghĩ nếu sau này lỡ đi ra khỏi cái xứ của mình chắc chịu chết chứ không thể ăn được thức ăn chỗ khác. Vậy mà lần đầu xuống miền tây được đãi canh chua nấu cá linh tự dưng lại ăn được rất ngon lành. Ban đầu ăn vì nể chủ nhà, vì trước khi đi, mình có tìm hiểu sơ sơ. Nghe nói người miền Tây rất thiệt tình, không khách sáo nên nếu chủ nhà có mời cơm mà mình từ chối là họ giận, họ buồn. Nghe vậy nên lần đầu xuống dưới mình bấm bụng ngồi ăn cho được mấy con cá linh, rồi cá trạch nướng, rồi cá ba sa nấu canh. Rồi cứ tiếp tục những chuyến đi- về cái thực đơn món miền Tây bây giờ của mình cũng khá hơn, được bổ sung vài món như khô cá sặc nướng giòn, cá đồng nướng rơm, cá lóc hấp hèm, mắm cá lóc Cần Thơ…
Hôm rồi có đứa bạn khoe dưới Đồng Tháp bây giờ sen nở đẹp mê hồn, lại nghĩ, hay mình chọn một ngày nào đó chạy về Tháp Mười ngồi trên bờ hồ ngắm sen trong tiếng muỗi vo ve của buổi chiều tà, chắc sẽ thú vị lắm.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...