“Cuộc đời không phải là xâu chuỗi thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều hạt lớn, hạt nhỏ, hạt xấu, hạt tốt, hạt cười, hạt khóc, hạt hạnh phúc, hạt vô hạnh… nó là xâu chuỗi vô thường” (Mạc Can)

Thứ tư, ngày 03 tháng tư năm 2013

Và Em mãi còn yêu...



Nguyên Hậu

Em yêu những ngày mưa
là những ngày không có Anh bên cạnh
cô quánh giọt tủi hờn vào sâu đáy mắt
lòng ấp ủ đợi chờ cho đến lúc nắng bừng lên

Em yêu những ngày mới gặp Anh
hai đứa nuôi dưỡng sợi tình qua ánh mắt
đến một ngày sợi tình đủ bền chặt
nỗi thổn thức dại khờ thổ lộ rằng Anh đã trót yêu Em!

Em cũng yêu những chiều không có Anh
đôi mắt trong veo nâng niu chút nắng cuối ngày còn sót trên ngọn đồi tình ái
cơn gió lành ghé vào vai em thủ thỉ
ánh sao dịu dàng sẽ mang Anh vào giấc mộng hồn nhiên

Và Em sẽ yêu mãi những ngày nắng còn xanh
để thời gian không kéo giãn cuộc đời ta theo màu mái tóc
Anh là một nửa mảnh hồn em lạc mất
(như cô Tấm đánh rơi chiếc giày trên dòng sông cổ tích)
Nên cố tìm nửa mảnh tim mình khi vội vàng trở lại kiếp phù sinh…

Và Em mãi còn yêu… mãi còn yêu…

N.H

Thứ tư, ngày 06 tháng ba năm 2013

Thơ Nguyễn Quốc Thái

Tháng Chạp và...

Như cơn gió lùa qua căn chòi nhỏ ven sông
Em cũng vậy, tỉnh táo quá, yêu thương gì đâu - vết thương thôi
Cuộc tình ngắn như một tiếng gọi đò
Ơi ới vùng vẫy trong sương chiều

Chỉ còn một chiếc ghế trên hè đường đó với gió
Chỉ còn mình ta và nỗi buồn
Với chiếc cửa sổ đẫm lá.

                ******     *****


Cuối năm, gửi...

Nhớ quá, gió xô chiều trở lạnh
Giọt cà phê rụng ới nhau về
Tháng Chạp so vai ngồi góc phố
Môi cũng xa người đến tái tê


Xuân. 2013

Thứ ba, ngày 15 tháng một năm 2013

Xuân nhớ Nội

 Nguyên Hậu
 Mỗi lần Tết đến, trong tôi lại len lỏi âm thầm một cảm xúc rất lạ, vừa nôn nao trong tiết trời trong veo, se lạnh nhưng cũng trĩu nặng một thứ cảm xúc về cội nguồn. Lúc nhỏ, Tết là cả một khung trời tươi đẹp, ngập tràn những niềm vui đầy màu sắc nên bọn trẻ chúng tôi háo hức đợi chờ. Còn bây giờ, mỗi khi Tết đến lại là dịp duy nhất tôi có thời gian sum họp gia đình và nghĩ về nguồn cội. 
Hồi nhỏ tôi vô tư đến nỗi chỉ lo mỗi chuyện học hành.  Tuy nhà tôi cách nhà nội không xa, nhưng mỗi năm tôi chỉ được về trong những dịp lễ giỗ và Tết. Nói vậy chứ có năm, những lễ giỗ trong gia đình trúng ngay ngày đi học, tôi cũng không thể về. Vậy nên mỗi năm chỉ trông đến Tết để được rảnh rang theo ba về nhà nội.
Người lớn mỗi lần Tết đến là than bận bịu, còn tôi lúc ấy chỉ chờ cho mau đến 30 Tết, được ba dùng chiếc xe đạp cọc cạch chở về nhà nội chơi. Đường từ nhà tôi về nội phải đi men dọc theo bờ sông, một bên là con mương rộng dẫn nước vô những vườn cây quanh co nào măng cụt, sầu riêng, mít, dâu xiêm, chôm chôm… Con đường chạy men theo con rạch rồi dẫn ra mé sông Cầu Ngang. Có lần ba chở tôi đi một đoạn thì bị trượt bánh xe, hai ba con té nhào, xe một bên, người một bên, cũng may là không bị lọt xuống  đường mương sâu bên đường. Thấy tôi bị ngã, lấm lem quần áo, ba đỡ tôi dậy, lòng  xót xa, còn tôi chỉ thấy tức cười, vì cái mặt ba lúc đó nhìn tội tội. Đi chừng mười lăm phút là tới nhà nội. Nhà nội nằm ngay mặt sông, trước nhà và bên hông đều là sông, chỉ có phía sau được bao quanh bởi vườn tược. Trước nhà nội có một cụm dừa nước xanh rì, trông đến mát con mắt.
Nhà nội thuộc kiểu nhà cổ, hình chữ Đinh (kiểu nhà cổ ở đất Bình Dương), tuy không rộng nhưng những ngày Tết thì nhộn nhịp phải biết. Ông bà nội có tới mười ba người con, ba tôi là cả, tôi có một chú Út và tới hai cô Út. Con cháu của nội rất đông, cả nội ngoại cộng lại cũng “gần nửa trăm” – theo cách nói của chú Út tôi. Mỗi lần nghe  vậy, ông bà thường cười, nhìn chú Út vẻ hờn trách nhưng tôi biết nội vui lắm. Quan niệm của mấy người xưa, hễ con cháu đầy đàn là tốt. Vậy nên Tết là dịp sum họp vui vẻ nhất của cả gia đình.
Ngày Tết, con trai con gái đều họp về, lớp cháu cũng sum vầy vây quanh nội, mừng tuổi và nhận bao lì xì. Có lẽ đó là niềm vui và cũng là niềm mong mỏi nhất của đám cháu chúng tôi. Bà nội thì dễ hơn ông nội, hễ thấy đứa cháu nào về bà cũng mừng rỡ, xoa đầu, rồi không đợi đám cháu mừng tuổi, bà cũng xòe ra những bao lì xì đỏ chót, chúc tụi cháu mạnh khỏe, học giỏi, sau này thành tài. Túi áo bà ba của nội ngày đó giống như cái túi thần kỳ của bà tiên vậy, lúc nào cũng rủng rỉnh những bao lì xì đỏ chót, làm cho bọn trẻ chúng tôi vui tít mắt.
Nhưng ông nội thì nghiêm khắc hơn, ông đợi con cháu họp về đông đủ, cùng thắp hương ở bàn thờ tổ tiên, ông mới đại diện chúc Tết cho từng gia đình, rồi phát bao lì xì một lượt. Hồi đó tôi không thích lắm nguyên tắc này của ông nội một phần vì phải chờ đợi lâu một phần thấy phiền vì lễ nghĩa cứng nhắc quá. Nhưng giờ lớn lên, khi nội không còn, tôi mới thấy quý biết bao cái không khí trang trọng của những buổi họp mặt đông đủ ấy.
Lúc nhỏ, tôi thích về nhà nội mấy ngày Tết vì dường như chỉ nơi đó mới neo giữ đầy đủ hương vị của một cái Tết cổ truyền. Tôi thích ngửi mùi nhang thơm nội đốt trên bàn thờ mấy ngày Tết, thoang thoảng, dìu dịu, mang lại cảm giác thanh sạch, trang nghiêm. Ăn Tết ở nhà nội, cái gì cũng có, từ bánh mứt, thịt thà đến những món rất đặc trưng ngày Tết và đặc biệt là những món tự tay nội làm. Để có một cái Tết đầm ấm, nội phải bắt đầu chuẩn bị từ 20 tháng Chạp. Nội tự nhận cho mình cái trách nhiệm phải làm thật nhiều, thật đủ đầy cho con cháu tụ về ăn Tết. Có lẽ vì vậy mà từ nhỏ tôi đã thấm dần trong người không khí của một cái tết truyền thống, không chỉ dân tộc mà còn trong mỗi nếp nhà. Khoảng 25 -26 tháng Chạp, ba và mấy chú đã về phụ ông nội dọn dẹp nhà cửa. Mẹ và mấy thiếm thì lo phụ bà nội chuẩn bị mấy món ăn, từ món mắm xắt, món chao, dưa muối, củ kiệu, rồi lo rọc lá, lau lá chuẩn bị gói bánh. Bánh tét nội gói thì đẹp hết biết! Đòn bánh thon, dài, cột dây đều văng, nấu không sợ bị vô nước, không sợ bị “nín” hai đầu và đặc biệt là có thể để đến … hết mùng vẫn không sao! Bánh của nội cũng có màu rất đặc trưng, màu tím than, trông rất đẹp. Và đó cũng là nét đặc trưng về món bánh tét của nội.
Tôi cũng đặc biệt thích món dưa giá nội làm, vì nội không mua giá ngoài chợ mà tự trồng. Nội chọn những hạt đậu xanh tốt nhất, ngâm trong nước rồi bỏ vào trong cái khạp nhỏ, bên trên phủ một tấm liếp bằng tre, đủ kín cho đậu nảy mầm. Món dưa nội làm cũng lắm công phu, vì ngoài giá, nội còn cho thêm củ kiệu sắc mỏng, rồi thêm mấy sợi mít non cắt lát thật mỏng, nhưng vì ngâm chung với dưa giá nên rất giòn và có mùi thơm thơm, nồng nồng của hành kiệu.
Ông bà nội tôi xuất gia, suốt năm ăn chay trường, nhưng ba ngày Tết nội muốn con cháu có món ngon để ăn nên gọi mẹ và mấy thiếm về giúp nội làm thêm mấy món mặn cho con cháu có ăn. Nội nhớ về thời con gái của nội, ba ngày tết cũng làm nhiều món, nên dù bây giờ không còn ăn cá thịt, nội vẫn nhớ rất rõ cách chế biến sao cho ngon và bảo quản được lâu trong ba ngày tết. Ngày trước không có tủ lạnh tiện lợi như bây giờ nên các món ăn ngày Tết phải nấu rất cẩn thận, có thể để ăn qua ba, bốn ngày Tết mà vẫn không bị hư. Nấu món ngon ngày Tết cũng là tấm lòng của con cháu với ông bà tổ tiên vì đó là dịp duy nhất họ được về chơi với con cháu.
Năm đó cũng 30 Tết, tôi cùng ba về nhà nội phụ mấy thiếm làm đồ ăn chuẩn bị rước ông bà. Nhìn con cháu đang lui hui nấu đồ ăn, tự nhiên nội  nói bâng quơ, rằng năm sau chắc tụi con không còn cực thế này nữa… Tôi nghe mà lặng hồn, như có một cơn gió lạnh bất chợt thổi qua, se buốt cõi lòng. Nghe xong sống mũi ai cũng cay cay.  Thấy vậy, chú Út – người có tài pha trò nhất trong mấy anh em nói đùa một câu để phá tan bầu không khí nặng trĩu ấy. Chú nói, má ơi, tụi con thích làm như vầy, cả năm mới cực một lần, có gì đâu má lo. Tụi con thích cực dài dài … cho nó vui!
Thật ra năm đó nội chớm bệnh, những cơn gió đông làm nội ho nhiều, mệt nhiều. Cả đời vất vả làm lụng nên về già sức khỏe cũng như bà già khó tính nhưng rất trẻ con, nắng mưa bất chợt. Cứ ba bữa phải đi gặp bác sĩ một lần nó mới chịu để nội yên. Được cái về già, được nhìn thấy con cháu đông đúc, sum vầy làm nội cũng vui. Trong khóe mắt hom hem của nội lúc đó nước mắt như muốn trào ra nhưng nội cố cười ha hả, nói vậy thì ráng cực đi nha con! Mọi người cùng cười, nhưng ngay sau đó liền quay mặt, giấu đi mấy giọt nước mắt. Nội cũng nhẹ nhàng quay lưng, bước từng bước chậm chạp lên nhà trên. Tôi biết nội buồn, như nội đang biết trước một điều gì đó!
Rồi cái điều không ai dám nghĩ cũng đã xảy đến. Sau khi ăn Tết xong, nội trở bệnh đột ngột, sức khỏe giảm ngày một rõ. Nội yếu dần trong khi hương vị ngày Tết vẫn còn thoang thoảng trên mấy ngọn gió ngang qua nhà. Rồi nội ra cũng nhẹ nhàng ra đi, như cơn gió, lặng lẽ, không phiền hà đến con cháu. Hôm đó là 20 tháng Giêng, hơi Tết vẫn còn nấn ná trước ngõ chưa vội đi nhưng nội đã ra đi mất rồi. Ngày cuối cùng tiễn nội qua Cầu Ngang, cả dòng sông và cây cối hai bên dòng cũng buồn thê thảm. Cơn gió tháng giêng vẫn còn cái se lạnh, bỗng lạnh hơn, nghe thấu tận cõi lòng. Cũng trên bến sông này, bà về ở với ông. Rồi cả đời, gần bảy chục cái xuân trôi, nội cũng gắn bó với cái bờ, cái bến của dòng Cầu Ngang. Ba nói hồi nhỏ, mỗi lần Tết đến mấy anh em cứ háo hức chạy ra bến sông chờ nội đi chợ về, vì thể nào trong giỏ cũng có mấy bộ quần áo mới cho mấy anh em ba xum xoe ngày Tết. Tết năm đó, cả bầy con cháu cũng tụ về bến sông đông đủ, nhưng không phải chờ, mà để tiễn, tiễn nội đi… đi mãi không về!
Mấy năm rồi, mỗi lần Tết đến là lúc tôi nhớ nội nhiều nhất, nhớ hoài câu nói đùa của nội để thấy sao mình quá vô tình. Nhớ mùi nhang thơm nội thường đốt trên bàn thờ mỗi khi Tết đến. Nhớ cái không khí chờ đợi con cháu về đông đủ để được nội lì xì tuổi ấu thơ. Nhớ,  nhớ nội đến thắt ruột thắt lòng…

Xuân 2013

Thứ sáu, ngày 07 tháng mười hai năm 2012

Từ những chuyến đi nghĩ về thơ đồng bằng



Nguyên Hậu

Sau những hành trình về miền Tây tôi lại có cảm giác mình đang trôi bồng bềnh giữa quên và nhớ, giữa xa và gần, giữa kỷ niệm và hiện tại. Có thể có vài nơi để lại trong mình một ấn tượng sâu đậm nhưng điều đó có lý do không phải bởi cảnh đẹp. Tôi bị ám ảnh bởi cái day dứt đợi chờ của những con người xa tôi lắm nhưng cứ như thật gần. Bắt đầu một chuyến đi luôn là niềm chờ vọng, chuẩn bị sẽ về nơi mình yêu thích, để đắm lòng sau nụ cười của những tâm hồn phóng khoáng, hiền hòa. Bởi lẽ còn nhiều lắm những điều mà những tác giả đồng bằng dù có cố diễn tả cũng không nói hết được trong những vần thơ của mình.
Thơ đồng bằng không hẳn đã hay với nhiều người nhưng với tôi, nó hay và đẹp như tình thương của một đứa con với người mẹ của mình. Nhận xét đó có lẽ hơi phiến diện nhưng đó là tất cả những gì mà đồng bằng mang lại cho tôi hay bất cứ ai từng vương hơi thở đồng bằng. Về miền Tây với tôi không giống với việc đi đến những miền đất khác, tôi vừa có cái tự do, vừa có phần không tự do. Tự do vì những lý do rất riêng, bởi tấm lòng những người đồng bằng hiền lành chất phác, họ khiến tôi thấy mình giống như một con cá được vẫy vùng trong cái ao quen thuộc. Chất vị đồng bằng không hề cao xa, không kiêu sa khó tính đến mức khó gần. Hương vị đồng bằng rất dễ nhận ra với những ai chịu chấp nhận những thiếu thốn của nó. Với tôi đồng bằng không nghèo, không thiếu gì hết mà trái lại rất giàu là khác. Người ta giàu có bởi những thứ không phải được cân đong bằng tiền bạc, vật chất mà là sự phong phú trong nội tâm con người. Người đồng bằng không thiếu tình, không nghèo nghĩa, cũng không nghèo về vật chất - cái vật chất phải vật vã tạo dựng mà là cái khí chất trời ban. Có lẽ vì vậy mà những chuyến xe về đồng bằng cũng trở nên ung dung, rộng mở, cứ như ngồi trên những chuyến xe đó là không bao giờ có gì xảy ra hết, là an tâm về với nơi mình yêu thương, dẫu đó không phải là quê hương, nguồn cội. Hai tiếng miền Tây luôn sức hấp dẫn với tôi, một cô bé ấp ủ trong lòng một bầu tình cảm nồng nàn với ký ức miền quê. Về miền Tây tôi thấy mình được bao bọc trong vầng sáng của tình cảm đó, tôi thấy mình yêu thương và được yêu thương, không giống với sự bon chen, xô bồ chốn thị thành, nơi mà khó khăn lắm con người mới tìm được sự cảm thông trong nhau. Ước gì miền Tây cứ mãi là miền Tây như thế trong tôi. Tôi rất sợ một ngày nào đó trước lực đẩy của sự phát triển về vật chất, những giá trị kia dù muốn hay không cũng méo mó đi ít nhiều.
Thơ đồng bằng nhiều người nói là “sến”, là quá mềm mượt, dễ dãi, do đó không hay. Nhưng sao tôi lại thấy yêu lắm cái mượt mà, giản dị đến gần như là tự nhiên đó. Tôi muốn thơ đồng bằng cứ mãi là thơ đồng bằng, đừng như cô gái quê ra chợ tỉnh rồi thấy món quà nào cũng đẹp, trang sức nào cũng lạ và sang mà mang hết vào mình. Tôi muốn các nhà thơ đồng bằng cứ sống bằng cái chất thực trong nội tâm của mình, không cần cao giọng bày giãi hay học đòi thế nọ thế kia. Đó chính là lý do vì sao tôi thích và cảm nhanh cái hồn của các nhà thơ đồng bằng đến vậy. Thơ hay không phải cứ có những từ ngữ lạ cho thật hiện đại nhưng ngật ngưỡng lạc giọng trong cái âm điệu chung của khúc vọng đồng bằng. Câu vọng cổ mãi là câu vọng cổ, không phải cứ chuyển thành rap hay rock thì mới bắt nhịp hiện đại, mới hay!
Tôi không biết người ta lấy chuẩn gì để định giá cho thơ. Với tôi, miền đất nào hồn thơ đó. Không ai lại thắc mắc sao ngày xưa những câu thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử mà ngày nay không có? Có ai dám nói mình có thể sống lại trong thời đại đó để làm ra những câu thơ như vậy chăng? Ở đây không phải là “sến” hay hiện đại mà quan trọng là chứa đựng trong đó cái thần của câu thơ, của hồn thơ. Mà cái thần đó do nhiều yếu tố hợp thành chứ không riêng gì một thành tố kỹ thuật nào. Không thể đổ lỗi cho tác giả không có trình độ, không biết sáng tạo, không thể nói người sáng tác không biết bắt lấy những khoảnh khắc đẹp của cuộc sống để mang vào thơ. Cũng không thể nói thơ không có cái hơi thở của thời đại. Một câu thơ hay phải hay từ trong ra và cả bên ngoài vô, nghĩa là tự trong hồn cốt nó phải có một cái gì linh thiêng để có thể đánh động tâm hồn người đọc. Bước vào thế giới văn chương như bước vô một cái miếu thờ, mà ông thần không đâu khác là cái hồn của câu thơ, là bút lực của thi nhân hòa quyện vào những yếu tố của hình thức. Không thể bảo Nguyễn Bính viết khác đi với chất và tạng thơ ông. Cũng không thể bảo một hồn thơ với chất điệu trí thức tiểu tư sản như Xuân Diệu có thể viết những vần thơ mộc mạc như Nguyễn Bính. Bởi vì cùng một chất liệu quê hương nhưng trong cảm nhận của một người thành thị sẽ khác với người ở nông thôn, mà phần đó lại được lý giải ở gốc độ địa văn hóa.
Tôi quý những nhà thơ đồng bằng, vì cho dù vật có đổi, sao có dời họ vẫn sống thật hồn nhiên nhưng vô cùng mãnh liệt với văn chương bằng tất cả tâm hồn mình. Thơ đồng bằng êm ả, mượt mà và có sức lay động như những làn điệu vọng cổ, có người thích, có người lại bảo … “khó tiếp thu”. Dù vậy tôi vẫn mong đồng bằng sẽ mãi là đồng bằng, nhé, đồng bằng ơi!

Thứ sáu, ngày 30 tháng mười một năm 2012

Thư gửi tía!



Nguyên Hậu

Bữa cơm đạm bạc với canh rau tập tàng và tép rim nước dừa do tía nấu

Chiều, nghe “Về quê ngoại” tự dưng nhớ tía vô cùng. Nhớ những ngày được ở cùng tía, được tía thương yêu chăm sóc. Nhớ mái nhà ấm cúng của tía, những bữa cơm có tía, má ăn cùng. Lúc đó, tía má có một đàn con rất ngoan, ai cũng hăng hái đi chợ, nấu nướng, ăn uống xong bữa còn biết giúp tía rửa chén (chỉ mỗi con gái út là hư thôi). Con gái tía không giỏi nấu ăn, để tía nấu, thương dáng tía đứng nấu ăn sau bếp vô cùng. Thương mảnh vườn tía má vun trồng, nhiều cây xanh, nhiều cây ăn quả, nhiều rau xanh cho bữa cơm hàng ngày. 

Con thường hỏi tía, ngoài con, tía còn hai chị gái, sao tía lại thương con tía nhỉ? Tía chỉ cười, con biết mình vu vơ quá chừng!!! Có một điều con chắc chắn, trọn đời này tía thương con, con cũng thương tía, đúng không? Nhiều lúc ở Sài Gòn bon chen, nhiều việc làm con buồn đến rơi nước mắt. Lúc đó chỉ cần cầm điện thoại gọi về cho tía, dù không biết chuyện gì đã xảy ra với con gái bé bỏng, chỉ cần tía nói: Tía hiểu, tía chia sẻ với con… Mỗi một câu nói thôi cũng làm con thấy mình mạnh mẽ lên rất nhiều!
Thương tía, ngoài tình cảm của đứa con dành cho tía của mình còn là cả một khoảng trời thương yêu của một đứa con không cùng quê dành cho mảnh đất cội nguồn. Không máu mủ ruột rà, nhưng ngay từ ánh nhìn đầu tiên, tía đã hiểu những điều chất chứa trong lòng đứa con “thất lạc”. Gương mặt nghiêm nghị nhưng phúc hậu, ánh mắt tía nói lên một điều: Tía hiểu, tía thương và san sẻ với con! Hiểu được những điều trong mắt tía, con chỉ muốn rơi nước mắt. Ước gì trọn đời được sống gần tía, lo lắng chăm sóc cho tía, như thể tía là tía ruột của con.

Từ nay con thấy mình không cô đơn, có tía quan tâm chia sẻ với con những điều trong nghề, những xúc cảm bình thường nhưng chỉ những người trong nghề mới cảm. Tía cho con một tình thương vô bờ bến, như lời tía nói: con gái tía còn thơ dại, tía cũng không có gì ngoài tình thương tía dành cho con.

Chiều nay, nhớ quê càng thấy đong đầy hình ảnh tía. Thương những câu nói tía dành cho con như đứa con ruột bé bỏng thơ dại của mình. Mỗi ngày được nói chuyện với tía, lo lắng tới sức khỏe của tía con thấy mình thật hạnh phúc. Không biết từ duyên gì đã làm cho tía con mình gần nhau, hả tía.

Ngày trước, cách đây chừng 2 năm, gặp tía lần đầu, tía nói đùa những câu rất vu vơ nhưng con hiểu không phải ai cũng có thể nói những lời như tía. Nhưng không hiểu sao, giờ những câu nói đó lại quay trở lại với tía con mình chứ không phải với một người khác.  Có lẽ từ hôm đó, con và tía đã có duyên!

Tía à, dù ở xa, không thường xuyên bên cạnh tía nhưng con hứa sẽ cố gắng sống thật tốt. Con sẽ chứng minh cho tía thấy khả năng của con gái tía. Tía nhớ giữ gìn sức khỏe, vui sống một cuộc đời thật thanh thản tía nhé!
Con thương tía! Gửi muôn vàn tình thương đến tía!

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...